NGÀNH CNTT TUYỂN SINH NHIỀU CHỈ TIÊU NGÀNH CNTT, CNTT VIỆT NHẬT VÀ KHOA HỌC DỮ LIỆU

Tin tức

Hơn 20% video YouTube hiển thị cho người dùng mới là nội dung rác do AI tạo ra

on .

Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng hơn 20% video được YouTube đề xuất cho người dùng mới là nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra với chất lượng thấp, tạo ra nguồn doanh thu ước tính khoảng 117 triệu USD mỗi năm.

 Kênh Super Cat League giới thiệu những chú mèo giống người trong những cảnh tượng kỳ lạ (được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo). Ảnh minh họa: @SuperCatLeague/YouTube

Kênh Super Cat League giới thiệu những chú mèo giống người trong những cảnh tượng kỳ lạ (được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo). Ảnh minh họa: @SuperCatLeague/YouTube

The Guardia công bố một nghiên cứu cho thấy hơn 20% video mà thuật toán YouTube hiển thị cho người dùng mới là “nội dung rác do AI tạo ra”. Đó là những sản phẩm chất lượng thấp, được thiết kế chủ yếu để câu view và kiếm tiền từ sự chú ý.

Nghiên cứu do Kapwing, một công ty biên tập video, thực hiện trên 15.000 kênh YouTube phổ biến nhất thế giới (top 100 kênh tại mỗi quốc gia). Kết quả cho thấy 278 kênh trong số này chỉ đăng tải nội dung được tạo hoàn toàn bằng trí tuệ nhân tạo.

Theo ước tính, các kênh “video nhảm nhí” sử dụng AI đã thu hút hơn 63 tỷ lượt xem và 221 triệu người đăng ký, tạo ra doanh thu khoảng 117 triệu USD (tương đương 90 triệu bảng Anh) mỗi năm.

Các nhà nghiên cứu cũng tạo một tài khoản YouTube mới và theo dõi 500 video đầu tiên được nền tảng đề xuất. Trong số này, có tới 104 video được xác định là “nội dung rác do AI tạo ra”.

Khoảng 1/3 tổng số video thuộc nhóm “nội dung nhảm nhí”, bao gồm cả nội dung AI và các video chất lượng thấp khác được sản xuất nhằm tối đa hóa doanh thu quảng cáo.

Những phát hiện này cho thấy sự hình thành của một ngành công nghiệp nội dung mới, đang phát triển nhanh chóng và bão hòa các nền tảng mạng xã hội lớn như X, Meta và YouTube. Đặc trưng của loại nội dung này là phi ngữ cảnh, dễ gây nghiện và có khả năng lan truyền xuyên biên giới.

 Một kênh YouTube sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh

Một kênh YouTube sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh

Một phân tích của The Guardian công bố trong năm nay cũng chỉ ra rằng gần 10% các kênh YouTube tăng trưởng nhanh nhất là nội dung do AI tạo ra, thu hút hàng triệu lượt xem bất chấp các nỗ lực của nền tảng nhằm hạn chế “nội dung không chân thực”.

Nghiên cứu của Kapwing cho thấy các kênh AI có phạm vi tiếp cận toàn cầu, với lượng người theo dõi lên tới hàng chục triệu.

Tại Tây Ban Nha, khoảng 20 triệu người – gần một nửa dân số nước này – theo dõi các kênh AI đang thịnh hành. Con số này là 18 triệu tại Ai Cập, 14,5 triệu tại Mỹ và 13,5 triệu tại Brazil.

Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều kênh nội dung do AI tạo ra đạt lượng người xem và doanh thu rất lớn. Các video thường khai thác những câu chuyện phi lý, hình tượng cường điệu, thiếu cốt truyện rõ ràng, hoặc nhắm trực tiếp tới trẻ em thông qua bối cảnh siêu thực và âm thanh gây tò mò.

Một số kênh tận dụng hình ảnh thiên tai, thảm họa cùng tiêu đề cảm xúc để thu hút lượt xem. Theo ước tính, nhiều kênh trong số này đạt hàng tỷ lượt xem và mang lại doanh thu hàng triệu USD mỗi năm.

Mặc dù YouTube không công bố dữ liệu chi tiết về tỷ lệ nội dung AI trong tổng số lượt xem, các chuyên gia cho rằng đằng sau những video kỳ lạ này là một hệ sinh thái sản xuất nội dung có tổ chức, tận dụng thuật toán phân phối của các nền tảng lớn để tối đa hóa lợi nhuận.

Một chuyên gia nhận định, nhiều cộng đồng trực tuyến trên Telegram, WhatsApp hay Discord đang chia sẻ kinh nghiệm, thậm chí bán các khóa học hướng dẫn tạo nội dung AI “kém chất lượng nhưng đủ lan truyền” để kiếm tiền. Phần lớn người tham gia đến từ các quốc gia có thu nhập trung bình, nơi thu nhập từ YouTube vượt xa mức lương địa phương.

Phản hồi về vấn đề này, người phát ngôn của YouTube cho biết trí tuệ nhân tạo tạo sinh chỉ là một công cụ và có thể được sử dụng cho cả nội dung chất lượng cao lẫn chất lượng thấp.

“Chúng tôi tập trung kết nối người dùng với nội dung chất lượng cao. Mọi video tải lên YouTube đều phải tuân thủ nguyên tắc cộng đồng, và các nội dung vi phạm sẽ bị gỡ bỏ,” người phát ngôn Youtube khẳng định.

KHÁNH MY

Nguồn: https://baomoi.com/hon-20-video-youtube-hien-thi-cho-nguoi-dung-moi-la-noi-dung-rac-do-ai-tao-ra-c54128049.epi

Quy trình 5 bước khi đến Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.HCM

on .

Khi liên hệ giao dịch tại Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.HCM, người dân và doanh nghiệp cần thực hiện theo trình tự năm bước.

Sáng mai (29-12), Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.HCM chính thức tiếp đón người dân, doanh nghiệp đến thực hiện hồ sơ, thủ tục hành chính.

  Trung tâm Phục vụ Hành chính công TP.HCM chính thức hoạt động từ 29-12. ảnh: LÊ THOA

Trung tâm Phục vụ Hành chính công TP.HCM chính thức hoạt động từ 29-12. ảnh: LÊ THOA 

Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.HCM đã có hướng dẫn về quy trình giao dịch tại đây. Khi liên hệ công việc, người dân và doanh nghiệp thực hiện theo trình tự 5 bước như sau:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ

Người dân, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ theo quy định. Mọi thông tin cần thiết được đăng tải trên Cổng dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn. Người dân có thể sử dụng thiết bị thông minh hoặc máy tra cứu tại khu vực cung cấp thông tin để hoàn thiện hồ sơ.

Bước 2: Đăng ký giao dịch

1. Giao dịch trực tiếp:

Người dân lấy phiếu thứ tự tại máy đặt ngay cửa ra vào, lưu ý chọn đúng lĩnh vực cần giao dịch. Sau đó, đọc kỹ thông tin trên phiếu gồm: Số quầy, số lượt giao dịch, vị trí khu vực giao dịch (Tầng 1: Khu A, A1, A2; Tầng 2: Khu B, B1, B2).

Đối với người yếu thế (người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai...), liên hệ trực tiếp quầy ưu tiên để được hướng dẫn, hỗ trợ.

Người dân tham khảo sơ đồ các khu giao dịch tại bảng niêm yết để xác định khu vực cần liên hệ theo thông tin trên phiếu.

2. Giao dịch trực tuyến:

Trung tâm Phục vụ hành chính công TP.HCM khuyến khích người dân thực hiện giao dịch trực tuyến. Người dân đăng nhập và thực hiện các giao dịch trên Cổng dịch vụ công quốc gia tại địa chỉ https://dichvucong.gov.vn nhằm giảm thời gian chờ đợi.

Bước 3: Liên hệ giao dịch

Người dân, doanh nghiệp đến đúng quầy giao dịch đã ghi trên phiếu; ngồi chờ tại các hàng ghế phía trước quầy. Theo dõi và chờ hệ thống gọi theo số thứ tự tại các quầy tương ứng.

Bước 4: Thực hiện giao dịch

Người dân liên hệ quầy giao dịch và thực hiện theo hướng dẫn của công chức, viên chức. Sau đó, người dân nhận Giấy tiếp nhận hồ sơ hoặc kết quả giải quyết.

Bước 5: Sử dụng các dịch vụ khác theo nhu cầu

Các dịch vụ khác gồm: Đăng ký nhận kết quả tại địa chỉ, sử dụng dịch vụ thanh toán ngân hàng… Người dân liên hệ các quầy tương ứng tại khu vực phụ trợ để được hỗ trợ.

LÊ THOA


Nguồn: https://baomoi.com/quy-trinh-5-buoc-khi-den-trung-tam-phuc-vu-hanh-chinh-cong-tp-hcm-c54125467.epi

Google giành lại vị trí dẫn đầu trong cuộc đua AI năm 2025

on .

 

 

 

Kết thúc năm 2025, Google đã giành lại vị thế dẫn đầu trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI) nhờ sự thành công của mô hình Gemini 3 và tăng trưởng mạnh mẽ của mảng điện toán đám mây. Bước chuyển này diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các đối thủ như OpenAI và Anthropic.

Google bứt phá nhờ Gemini 3 và đám mây

Trong năm 2025, Google đã thực hiện sự “lội ngược dòng” đáng chú ý trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, lấy lại vị trí dẫn đầu từ OpenAI sau khi trình làng mô hình Gemini 3 và đẩy mạnh phát triển mảng dịch vụ điện toán đám mây. Trước đó, Google được xem là ở thế “yếu thế hơn” so với OpenAI, đơn vị sở hữu ChatGPT, tuy nhiên kết quả năm nay cho thấy công ty đã kiểm soát lại cuộc chơi công nghệ.

(Ảnh minh họa)

 

(Ảnh minh họa)

Việc Gemini 3 ra mắt vào tháng 11 vừa qua được coi là bước ngoặt quan trọng. Mô hình này vượt qua các tiêu chí đánh giá để trở thành bộ AI dẫn đầu trên nhiều hạng mục, trong đó có khả năng xử lý ngôn ngữ và tích hợp sâu vào hệ sinh thái thiết bị và dịch vụ của Google. Điều này khiến CEO một số tập đoàn công nghệ lớn bày tỏ ấn tượng. Trong đó, CEO của Salesforce, Marc Benioff, từng nhận xét về bước phát triển của Gemini 3: “sẽ không quay lại ChatGPT”, gọi thành tựu này là “điên rồ.”

Trong một diễn biến liên quan, CEO OpenAI, Sam Altman, cùng với một số lãnh đạo công nghệ khác cũng đã gửi lời chúc mừng Google, thể hiện sự công nhận đối với thành quả phát triển mô hình mới. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh các doanh nghiệp như Meta và Anthropic cũng thể hiện sự quan tâm tới hệ sinh thái công nghệ của Google, với một số kế hoạch sử dụng chip Tensor và gia tăng hạ tầng đám mây.

Đầu tư cơ sở hạ tầng và liên minh công nghệ mới

Song song với thành công của Gemini 3, Google đã đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng AI và điện toán đám mây. Công ty công bố khoản đầu tư 40 tỷ USD tại bang Texas (Mỹ), nhằm xây dựng các trung tâm dữ liệu mới phục vụ cả AI và các dịch vụ đám mây trong dài hạn. Theo Google, khoản đầu tư này được thiết kế không chỉ để phát triển năng lực kỹ thuật, mà còn để “đảm bảo Mỹ duy trì được nền tảng kỹ thuật để dẫn đầu thế giới về AI.”

Bên cạnh đó, Google và Amazon đã giới thiệu một dịch vụ mạng đa đám mây chung, giúp khách hàng thiết lập kết nối tốc độ cao giữa các nền tảng đám mây trong thời gian chỉ vài phút, thay vì vài tuần như trước đây. Điều này cho thấy xu hướng hợp tác giữa các “ông lớn” công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về kết nối và tính linh hoạt trong quản lý dữ liệu.

Phó Chủ tịch dịch vụ mạng tại AWS, ông Robert Kennedy, đánh giá về sự hợp tác này rằng: “Sự hợp tác giữa AWS và Google Cloud cho thấy sự thay đổi cơ bản trong kết nối đa đám mây.” Đây được coi là một bước tiến nhằm cải thiện khả năng vận hành và tương tác giữa các dịch vụ đám mây của hai tập đoàn lớn.

Tăng trưởng người dùng và thị phần đám mây

Các số liệu từ các khảo sát thị trường cho thấy Google đang thu hẹp khoảng cách với đối thủ cạnh tranh về mặt người dùng hoạt động hàng tháng (MAU). Theo kết quả khảo sát của ngân hàng đầu tư TD Cowen trên 2.500 người tiêu dùng tại Mỹ, tỷ lệ người dùng sử dụng dịch vụ Gemini đã tăng từ 24% lên 26% trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 10/2025. Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng ChatGPT của OpenAI có xu hướng giảm nhẹ từ 36% xuống 35% trong cùng giai đoạn.

Dữ liệu của công ty phân tích Sensor Tower cũng thể hiện đà tăng trưởng ấn tượng của Google: từ tháng 8 tới tháng 12/2025, lượng người dùng Gemini tăng khoảng 30%, cao gấp đôi so với mức 15% của ChatGPT. Một số yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng này là các ứng dụng dựa trên AI như “Nano Banana” và việc tích hợp Gemini sâu vào hệ sinh thái Android, giúp trải nghiệm người dùng trở nên liền mạch hơn.

Trong lĩnh vực điện toán đám mây, Google Cloud Platform (GCP) cũng ghi nhận kết quả tài chính tích cực, với doanh thu quý III/2025 đạt 15,1 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ. CEO Sundar Pichai cho biết số lượng hợp đồng trị giá trên 1 tỷ USD được ký trong quý này nhiều hơn tổng số của hai năm trước cộng lại, và hơn 70% khách hàng đám mây hiện tại đang sử dụng các dịch vụ AI.

Mở rộng hệ sinh thái chip và triển vọng tương lai

Google cũng đang có những bước tiến trên mặt trận phần cứng. Trong tháng 10/2025, hãng Anthropic thông báo mở rộng kế hoạch sử dụng chip AI của Google với quy mô lên tới một triệu bộ xử lý, giúp tăng cường năng lực xử lý cho các ứng dụng AI phức tạp. Meta, công ty mẹ của Facebook, cũng được cho là đang đàm phán để sử dụng chip của Google cho các dự án AI của mình.

Chuyên gia Gene Munster, quản lý đối tác tại Deepwater Asset Management, nhận định rằng Google hiện có lợi thế nhờ một “hệ sinh thái AI tích hợp hoàn chỉnh.” Ông cho rằng Gemini là mô hình hàng đầu, với cơ sở người dùng tăng nhanh hơn OpenAI và mảng tìm kiếm được hỗ trợ bởi các tính năng AI hiệu quả. Munster dự báo Google sẽ là cổ phiếu hoạt động tốt nhất trong nhóm các tập đoàn công nghệ hàng đầu vào năm 2026.

Nguyên Bách

Nguồn: https://baomoi.com/google-gianh-lai-vi-tri-dan-dau-trong-cuoc-dua-ai-nam-2025-c54095785.epi

Kết thúc năm 2025, Google đã giành lại vị thế dẫn đầu trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI) nhờ sự thành công của mô hình Gemini 3 và tăng trưởng mạnh mẽ của mảng điện toán đám mây. Bước chuyển này diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các đối thủ như OpenAI và Anthropic.

Google bứt phá nhờ Gemini 3 và đám mây

Trong năm 2025, Google đã thực hiện sự “lội ngược dòng” đáng chú ý trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, lấy lại vị trí dẫn đầu từ OpenAI sau khi trình làng mô hình Gemini 3 và đẩy mạnh phát triển mảng dịch vụ điện toán đám mây. Trước đó, Google được xem là ở thế “yếu thế hơn” so với OpenAI, đơn vị sở hữu ChatGPT, tuy nhiên kết quả năm nay cho thấy công ty đã kiểm soát lại cuộc chơi công nghệ.

 

(Ảnh minh họa)

Việc Gemini 3 ra mắt vào tháng 11 vừa qua được coi là bước ngoặt quan trọng. Mô hình này vượt qua các tiêu chí đánh giá để trở thành bộ AI dẫn đầu trên nhiều hạng mục, trong đó có khả năng xử lý ngôn ngữ và tích hợp sâu vào hệ sinh thái thiết bị và dịch vụ của Google. Điều này khiến CEO một số tập đoàn công nghệ lớn bày tỏ ấn tượng. Trong đó, CEO của Salesforce, Marc Benioff, từng nhận xét về bước phát triển của Gemini 3: “sẽ không quay lại ChatGPT”, gọi thành tựu này là “điên rồ.”

Trong một diễn biến liên quan, CEO OpenAI, Sam Altman, cùng với một số lãnh đạo công nghệ khác cũng đã gửi lời chúc mừng Google, thể hiện sự công nhận đối với thành quả phát triển mô hình mới. Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh các doanh nghiệp như Meta và Anthropic cũng thể hiện sự quan tâm tới hệ sinh thái công nghệ của Google, với một số kế hoạch sử dụng chip Tensor và gia tăng hạ tầng đám mây.

Đầu tư cơ sở hạ tầng và liên minh công nghệ mới

Song song với thành công của Gemini 3, Google đã đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng AI và điện toán đám mây. Công ty công bố khoản đầu tư 40 tỷ USD tại bang Texas (Mỹ), nhằm xây dựng các trung tâm dữ liệu mới phục vụ cả AI và các dịch vụ đám mây trong dài hạn. Theo Google, khoản đầu tư này được thiết kế không chỉ để phát triển năng lực kỹ thuật, mà còn để “đảm bảo Mỹ duy trì được nền tảng kỹ thuật để dẫn đầu thế giới về AI.”

Bên cạnh đó, Google và Amazon đã giới thiệu một dịch vụ mạng đa đám mây chung, giúp khách hàng thiết lập kết nối tốc độ cao giữa các nền tảng đám mây trong thời gian chỉ vài phút, thay vì vài tuần như trước đây. Điều này cho thấy xu hướng hợp tác giữa các “ông lớn” công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về kết nối và tính linh hoạt trong quản lý dữ liệu.

Phó Chủ tịch dịch vụ mạng tại AWS, ông Robert Kennedy, đánh giá về sự hợp tác này rằng: “Sự hợp tác giữa AWS và Google Cloud cho thấy sự thay đổi cơ bản trong kết nối đa đám mây.” Đây được coi là một bước tiến nhằm cải thiện khả năng vận hành và tương tác giữa các dịch vụ đám mây của hai tập đoàn lớn.

Tăng trưởng người dùng và thị phần đám mây

Các số liệu từ các khảo sát thị trường cho thấy Google đang thu hẹp khoảng cách với đối thủ cạnh tranh về mặt người dùng hoạt động hàng tháng (MAU). Theo kết quả khảo sát của ngân hàng đầu tư TD Cowen trên 2.500 người tiêu dùng tại Mỹ, tỷ lệ người dùng sử dụng dịch vụ Gemini đã tăng từ 24% lên 26% trong giai đoạn từ tháng 7 đến tháng 10/2025. Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng ChatGPT của OpenAI có xu hướng giảm nhẹ từ 36% xuống 35% trong cùng giai đoạn.

Dữ liệu của công ty phân tích Sensor Tower cũng thể hiện đà tăng trưởng ấn tượng của Google: từ tháng 8 tới tháng 12/2025, lượng người dùng Gemini tăng khoảng 30%, cao gấp đôi so với mức 15% của ChatGPT. Một số yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng này là các ứng dụng dựa trên AI như “Nano Banana” và việc tích hợp Gemini sâu vào hệ sinh thái Android, giúp trải nghiệm người dùng trở nên liền mạch hơn.

Trong lĩnh vực điện toán đám mây, Google Cloud Platform (GCP) cũng ghi nhận kết quả tài chính tích cực, với doanh thu quý III/2025 đạt 15,1 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ. CEO Sundar Pichai cho biết số lượng hợp đồng trị giá trên 1 tỷ USD được ký trong quý này nhiều hơn tổng số của hai năm trước cộng lại, và hơn 70% khách hàng đám mây hiện tại đang sử dụng các dịch vụ AI.

Mở rộng hệ sinh thái chip và triển vọng tương lai

Google cũng đang có những bước tiến trên mặt trận phần cứng. Trong tháng 10/2025, hãng Anthropic thông báo mở rộng kế hoạch sử dụng chip AI của Google với quy mô lên tới một triệu bộ xử lý, giúp tăng cường năng lực xử lý cho các ứng dụng AI phức tạp. Meta, công ty mẹ của Facebook, cũng được cho là đang đàm phán để sử dụng chip của Google cho các dự án AI của mình.

Chuyên gia Gene Munster, quản lý đối tác tại Deepwater Asset Management, nhận định rằng Google hiện có lợi thế nhờ một “hệ sinh thái AI tích hợp hoàn chỉnh.” Ông cho rằng Gemini là mô hình hàng đầu, với cơ sở người dùng tăng nhanh hơn OpenAI và mảng tìm kiếm được hỗ trợ bởi các tính năng AI hiệu quả. Munster dự báo Google sẽ là cổ phiếu hoạt động tốt nhất trong nhóm các tập đoàn công nghệ hàng đầu vào năm 2026.

Nguyên Bách

 

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/doanh-nhan/google-gianh-lai-vi-tri-dan-dau-trong-cuoc-dua-ai-nam-2025/20251224053919968

 

 

 

IoT: Cánh cửa mới của gián điệp dữ liệu

on .

Sự phổ biến của IoT giúp cuộc sống tiện lợi hơn, nhưng đồng thời tạo ra những khoảng trống an ninh khó nhận biết. Mỗi kết nối kém bảo vệ là cơ hội cho kẻ xấu xâm nhập, rò rỉ thông tin và đe dọa hệ thống mạng.

Vùng trũng bảo mật

Sự bùng nổ của hệ sinh thái thiết bị kết nối đang biến IoT (Internet vạn vật: thiết bị kết nối Internet, thu thập và chia sẻ dữ liệu để giám sát, điều khiển, tối ưu hoạt động) thành một thành tố quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số toàn cầu. Từ camera giám sát, thiết bị nhà thông minh, cảm biến môi trường, thiết bị y tế đến hệ thống quản lý năng lượng, dây chuyền sản xuất và hạ tầng tự động hóa công cộng, IoT ngày càng hiện diện sâu rộng trong đời sống hiện đại.

Sự kết nối này mang lại nhiều lợi ích rõ rệt về hiệu quả vận hành và khả năng kiểm soát. Tuy nhiên, chính tốc độ mở rộng nhanh chóng ấy cũng tạo ra một nghịch lý an ninh: số lượng thiết bị càng lớn, những khoảng trống bảo mật càng khó nhận diện và kiểm soát.

 Thiết bị IoT ngày càng hiện diện sâu rộng trong mọi lĩnh vực, đồng thời mở rộng bề mặt tấn công và tạo ra những “điểm mù” mới trong an ninh dữ liệu.

Thiết bị IoT ngày càng hiện diện sâu rộng trong mọi lĩnh vực, đồng thời mở rộng bề mặt tấn công và tạo ra những “điểm mù” mới trong an ninh dữ liệu.

Các báo cáo đánh giá an ninh trong nhiều năm liên tiếp đều chỉ ra một thực tế đáng lo ngại: phần lớn thiết bị IoT vẫn được triển khai với ưu tiên về tiện ích hơn là an toàn thông tin. Ngay từ khâu thiết kế và sản xuất, không ít thiết bị đã thiếu các yếu tố bảo mật nền tảng, từ cơ chế xác thực mạnh, chuẩn mã hóa cho tới khả năng cập nhật phần mềm.

Không chỉ vậy, do hạn chế về tài nguyên và yêu cầu tiết kiệm năng lượng, nhiều thiết bị chỉ áp dụng các biện pháp mã hóa tối thiểu, thậm chí truyền dữ liệu không được bảo vệ đầy đủ. Trong khi đó, dữ liệu IoT lại mang tính liên tục và chi tiết, bao gồm hình ảnh, tín hiệu cảm biến, thông tin hành vi và vị trí. Khi đường truyền không được bảo vệ đúng mức, dữ liệu có thể bị nghe lén hoặc thu thập trái phép mà không để lại dấu vết rõ ràng.

Nếu quan sát kỹ cách thức vận hành của các cuộc xâm nhập nhắm vào thiết bị IoT, có thể thấy mục tiêu của đối tượng tấn công không dừng lại ở việc kiểm soát một thiết bị riêng lẻ. Trên thực tế, thiết bị IoT thường được xem như điểm khởi đầu, tạo bàn đạp để tiếp cận sâu hơn vào hệ thống dữ liệu và mạng nội bộ của tổ chức.

Thông qua việc khai thác các mắt xích bảo mật yếu trong chuỗi kết nối, kẻ xâm nhập có thể âm thầm theo dõi luồng dữ liệu vận hành, từng bước dựng lại cấu trúc hệ thống mà không cần can thiệp trực diện. Chính đặc điểm lặng lẽ này khiến nhiều đơn vị chỉ phát hiện sự cố sau một thời gian dài, khi thiết bị đã trở thành điểm rò rỉ dữ liệu khó kiểm soát.

 Camera giám sát, khóa thông minh và các thiết bị gia đình kết nối liên tục thu thập dữ liệu sinh hoạt, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đời sống cá nhân.

Camera giám sát, khóa thông minh và các thiết bị gia đình kết nối liên tục thu thập dữ liệu sinh hoạt, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đời sống cá nhân.

Rò rỉ âm thầm

Một trong những kịch bản phổ biến nhất hiện nay là việc khai thác các điểm yếu trong quá trình truyền dữ liệu giữa thiết bị IoT và hệ thống quản lý trung tâm. Trên thực tế, không ít thiết bị vẫn được triển khai với mức bảo vệ hạn chế, sử dụng các giao thức truyền thông cũ hoặc cơ chế mã hóa chưa đáp ứng yêu cầu an ninh hiện đại. Trong những điều kiện như vậy, chỉ cần hiện diện trên cùng một dải mạng hoặc kiểm soát được một điểm trung gian trong luồng truyền, đối tượng tấn công đã có thể nghe lén, ghi lại và phân tích dữ liệu vận hành mà người sử dụng không nhận thấy bất kỳ dấu hiệu bất thường nào trong quá trình hoạt động của hệ thống.

Điều đáng lo ngại là kiểu xâm nhập này không gây ra sự cố rõ ràng, không làm gián đoạn dịch vụ và cũng không tạo ra cảnh báo tức thời. Hệ thống vẫn vận hành ổn định, thiết bị vẫn thực hiện đúng chức năng được giao, trong khi dữ liệu nhạy cảm có thể đã bị thu thập trong thời gian dài. Khi dữ liệu được truyền đi trong trạng thái chưa được bảo vệ đầy đủ, các thông tin về cấu trúc mạng, mối liên kết giữa các thành phần, quy trình xử lý nội bộ và thói quen vận hành dần bị lộ diện.

Nhiều phân tích kỹ thuật đã chỉ ra rằng tình trạng thiếu mã hóa hoặc áp dụng mã hóa yếu trên thiết bị IoT vẫn tồn tại phổ biến. Trong bối cảnh thiết bị kết nối ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phụ thuộc, việc dữ liệu được truyền đi mà không có lớp bảo vệ tương xứng đã làm gia tăng đáng kể nguy cơ nghe lén, đánh cắp và sử dụng trái phép thông tin. Đáng chú ý, những dữ liệu bị thu thập này không chỉ mang giá trị tức thời mà còn có thể được lưu trữ, đối chiếu và phân tích theo thời gian, tạo ra nguồn thông tin có giá trị cao đối với các hoạt động xâm nhập tiếp theo.

Song song đó, giao diện lập trình kết nối giữa thiết bị IoT và nền tảng điều khiển trung tâm cũng là một trong những điểm yếu thường xuyên bị nhắm tới. Các giao diện này đóng vai trò cầu nối, cho phép thiết bị gửi dữ liệu, nhận lệnh và đồng bộ thông tin với hệ thống quản lý. Tuy nhiên, khi cơ chế xác thực và phân quyền không được thiết kế chặt chẽ, giao diện kết nối có thể trở thành lối vào trực tiếp cho việc truy cập dữ liệu trái phép. Thông qua việc khai thác các lỗ hổng trong xác thực hoặc kiểm soát truy cập, đối tượng xâm nhập có thể đọc, sao chép, thậm chí chỉnh sửa dữ liệu mà không cần tiếp cận vật lý hay can thiệp trực tiếp vào thiết bị.

Nhiều nghiên cứu phân tích đã cho thấy việc triển khai giao diện kết nối thiếu kiểm soát là nguyên nhân dẫn tới không ít sự cố rò rỉ dữ liệu quy mô lớn trong thời gian qua. Đặc biệt, tại các hệ thống sử dụng dày đặc cảm biến và thiết bị tự động hóa, mỗi giao diện kết nối không được bảo vệ đúng mức đều có thể trở thành một điểm xâm nhập tiềm ẩn. Khi số lượng thiết bị tăng lên, bề mặt tấn công cũng mở rộng tương ứng, khiến việc kiểm soát trở nên phức tạp hơn.

Trong môi trường doanh nghiệp, hệ quả của việc một thiết bị IoT bị xâm nhập hiếm khi dừng lại ở phạm vi của chính thiết bị đó. Khi hạ tầng mạng thiếu sự phân tách hợp lý, quyền truy cập và luồng dữ liệu từ thiết bị IoT có thể nhanh chóng trở thành cầu nối để đối tượng xâm nhập mở rộng phạm vi tiếp cận, từng bước tiến sâu vào các hệ thống nội bộ quan trọng hơn, từ máy chủ lưu trữ dữ liệu cho tới các hệ thống điều hành và kiểm soát sản xuất.

Chính vì vậy, mô hình mạng phẳng vẫn còn tồn tại tại không ít tổ chức được đánh giá là tiềm ẩn mức rủi ro cao. Trong mô hình này, thiết bị IoT và các hệ thống trọng yếu cùng chia sẻ không gian mạng, thiếu các lớp ngăn cách cần thiết. Nhiều tài liệu kỹ thuật do các cơ quan chuyên trách công bố đã liên tục nhấn mạnh vai trò then chốt của việc phân đoạn mạng, coi đây là biện pháp nền tảng nhằm hạn chế phạm vi ảnh hưởng và kiểm soát rủi ro khi xảy ra các sự cố liên quan đến thiết bị IoT.

Bên cạnh các thiết bị IoT được quản lý chính thức, thách thức còn đến từ những thiết bị “bị bỏ quên” trong chính hệ thống của tổ chức. Đây là các thiết bị đã được triển khai và vận hành nhưng không được đăng ký đầy đủ trong danh mục quản lý, nằm ngoài phạm vi theo dõi và kiểm soát an ninh. Khi không được giám sát, tổ chức gần như không thể kiểm soát việc cập nhật phần mềm, thay đổi mật khẩu hay phát hiện các dấu hiệu truy cập bất thường.

 Trong lĩnh vực y tế, lỗ hổng trên thiết bị thông minh có thể tác động trực tiếp tới quyền riêng tư và an toàn của bệnh nhân.

Trong lĩnh vực y tế, lỗ hổng trên thiết bị thông minh có thể tác động trực tiếp tới quyền riêng tư và an toàn của bệnh nhân.

Trong lĩnh vực y tế, các thiết bị kết nối không chỉ thu thập thông số sinh lý hay tình trạng bệnh lý, mà còn gắn liền với toàn bộ quá trình theo dõi, chẩn đoán và điều trị. Khi dữ liệu y khoa bị rò rỉ hoặc bị tác động trái phép, hệ quả vượt ra ngoài phạm vi quyền riêng tư, trực tiếp ảnh hưởng đến độ tin cậy của thông tin chuyên môn và chất lượng chăm sóc sức khỏe. Trong những tình huống nghiêm trọng, dữ liệu sai lệch có thể chi phối quyết định lâm sàng, làm gia tăng rủi ro cho người bệnh và đặt các cơ sở y tế trước sức ép lớn về an toàn và trách nhiệm nghề nghiệp.

Nhiều khảo sát chuyên sâu chỉ ra rằng một tỷ lệ đáng kể thiết bị y tế kết nối hiện vẫn vận hành trên các nền tảng phần mềm đã lỗi thời, có vòng đời sử dụng kéo dài và phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp trong công tác cập nhật, khắc phục điểm yếu an ninh. Do yêu cầu cao về tính ổn định cùng sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình chuyên môn, việc nâng cấp hoặc thay thế thiết bị thường diễn ra chậm hơn so với các hệ thống công nghệ thông tin thông thường. Chính đặc thù này khiến các khiếm khuyết bảo mật tồn tại dai dẳng theo thời gian, làm tăng nguy cơ bị khai thác trong suốt quá trình vận hành, trong khi khả năng chủ động kiểm soát của các cơ sở y tế vẫn còn hạn chế.

Không dừng lại ở phạm vi các tổ chức, người dùng cá nhân cũng phải đối mặt với những rủi ro tương tự trong không gian số ngày càng kết nối chặt chẽ. Camera giám sát, khóa thông minh, thiết bị điều khiển và các hệ thống tự động trong gia đình liên tục thu thập và truyền tải dữ liệu về sinh hoạt hằng ngày. Lượng dữ liệu này, nếu không được bảo vệ, rất có thể sẽ trở thành nguồn thông tin nhạy cảm bị khai thác ngoài ý muốn.

Khi thiết bị gia đình bị xâm nhập, hệ quả không chỉ là sự xâm phạm đời sống riêng tư, mà còn tạo điều kiện để đối tượng tấn công phân tích thói quen sinh hoạt, xác định thời điểm vắng mặt, nhận diện cấu trúc không gian sống hoặc suy đoán những yếu tố nhạy cảm khác liên quan đến người sử dụng. Thực tế cho thấy, không ít người dùng vẫn duy trì cấu hình mặc định, ít quan tâm đến việc thay đổi mật khẩu, cập nhật phần mềm hay rà soát các thiết lập an ninh cơ bản.

Hệ quả của các cuộc tấn công nhắm vào thiết bị IoT thường kéo dài và phức tạp hơn nhiều so với thiệt hại ban đầu. Ngoài tổn thất về dữ liệu, các tổ chức còn phải đối mặt với nguy cơ gián đoạn hoạt động, suy giảm uy tín và những rủi ro pháp lý liên quan đến nghĩa vụ bảo vệ thông tin. Quá trình khắc phục sự cố đòi hỏi nguồn lực đáng kể, từ việc rà soát toàn bộ hạ tầng, xác định thiết bị bị ảnh hưởng cho tới tái cấu trúc quy trình quản lý và vận hành. Nhiều báo cáo quản lý cho thấy xử lý hậu quả từ các sự cố liên quan đến IoT thường gặp khó khăn do sự đa dạng về chủng loại, phiên bản và phương thức kết nối của các thiết bị.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu đưa an ninh IoT trở thành một cấu phần không thể tách rời trong chiến lược bảo mật tổng thể của tổ chức không còn là lựa chọn, mà là đòi hỏi mang tính tất yếu. Việc quản lý danh mục thiết bị, kiểm soát bề mặt tấn công, thiết lập chính sách truy cập, mã hóa dữ liệu và duy trì cập nhật định kỳ cần được triển khai một cách đồng bộ và liên tục, thay vì thực hiện rời rạc hoặc mang tính đối phó. Cùng với đó, phân đoạn mạng và giám sát hoạt động giữ vai trò then chốt trong việc phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, đồng thời khoanh vùng và hạn chế tác động khi sự cố xảy ra.

Thiết bị IoT đã và đang mang lại những giá trị thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý và cải thiện chất lượng đời sống. Tuy nhiên, chính mức độ phổ cập và tính kết nối sâu rộng của IoT cũng khiến các rủi ro an ninh trở nên phức tạp hơn. Trong bối cảnh số lượng thiết bị tiếp tục gia tăng, trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin không chỉ thuộc về nhà sản xuất hay đơn vị vận hành, mà còn gắn liền với nhận thức và hành động của người sử dụng trong suốt vòng đời thiết bị.

Khi an ninh được đặt đúng vị trí, từ khâu thiết kế, triển khai đến vận hành và sử dụng, IoT mới có thể phát huy trọn vẹn vai trò là công cụ phục vụ con người và xã hội. Ngược lại, nếu yếu tố bảo mật tiếp tục bị xem nhẹ, những tiện ích công nghệ sẽ dễ dàng trở thành kẽ hở âm thầm, tạo điều kiện cho các hoạt động thu thập và khai thác dữ liệu trái phép, để lại hệ lụy lâu dài cho cả tổ chức lẫn cộng đồng.

Minh Hằng

Nguồn: https://baomoi.com/iot-canh-cua-moi-cua-gian-diep-du-lieu-c54083677.epi

Google News bổ sung tính năng nghe tin tức bằng AI

on .

Google News triển khai tab 'Nghe' mới trên Android và iOS, cho phép người dùng nghe tóm tắt tin tức bằng AI, phù hợp khi di chuyển hoặc làm việc.

Google đang triển khai một tính năng mới đáng chú ý cho ứng dụng Google News trên cả Android và iOS, mang đến trải nghiệm tiếp cận tin tức theo cách hoàn toàn khác: nghe tin tức thay vì chỉ đọc.

Đây được xem là bước đi tiếp theo của Google trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm tăng mức độ tương tác của người dùng với nội dung báo chí.

 Hình minh họa.

Hình minh họa.

Xuất hiện tab “Nghe” mới trên Google News

Sau khi cập nhật ứng dụng Google News, nhiều người dùng sẽ thấy một tab thứ tư mang tên “Nghe” xuất hiện ở thanh điều hướng phía dưới màn hình. Lần đầu mở tab này, ứng dụng sẽ hiển thị thông báo “Mới! Nghe những tin tức hàng đầu buổi sáng”. Biểu tượng của tab là hình tai nghe chụp tai, đi kèm hiệu ứng lấp lánh đặc trưng của Gemini AI.

Tab “Nghe” cho phép người dùng tiếp cận các bản tin dưới dạng âm thanh, phù hợp với những ai có thói quen nghe tin tức khi di chuyển, làm việc hoặc không tiện đọc nội dung trên màn hình.

Google đẩy mạnh AI và hợp tác với các nhà xuất bản

Theo Google, tab “Nghe” là một phần trong chiến lược khám phá cách AI có thể giúp thu hút người dùng tương tác nhiều hơn với Google News. Công ty cho biết họ đang hợp tác chặt chẽ với các nhà xuất bản để thử nghiệm nhiều tính năng mới, trong đó có:

Tóm tắt bài viết bằng AI, giúp người đọc nắm nhanh nội dung chính trước khi quyết định nhấp vào bài viết đầy đủ.

Tóm tắt tin tức bằng âm thanh, hướng đến nhóm người dùng thích nghe hơn là đọc.

Những thử nghiệm này nhằm cung cấp thêm ngữ cảnh cho người dùng, đồng thời mở ra các hình thức tiếp cận nội dung báo chí linh hoạt hơn.

Cách sử dụng tính năng tóm tắt tin tức bằng âm thanh

Để nghe bản tin âm thanh, người dùng chỉ cần nhấn vào tab Nghe, sau đó chọn nút phát ở cuối màn hình để bắt đầu phát trực tuyến bản tóm tắt tin tức của Google News. Thanh điều khiển cho phép điều chỉnh tốc độ phát từ chậm hơn 30% đến nhanh gấp đôi, cùng các tùy chọn tua nhanh 30 giây hoặc tua lại 15 giây.

Menu ba chấm cung cấp thêm lựa chọn, bao gồm truy cập bài viết nổi bật liên quan đến bản tóm tắt âm thanh đang phát, cũng như gửi phản hồi trực tiếp cho Google.

Giao diện Material 3 và trải nghiệm đa nhiệm

Nút phát theo phong cách Material 3 sẽ thay đổi hình dạng khi được nhấn. Tiêu đề câu chuyện đang được nghe sẽ hiển thị nổi bật trong một khung lớn phía trên thanh tiến trình. Bên dưới là hai ô nhỏ: ô bên phải hiển thị bài báo chính mà bản tóm tắt âm thanh đang đề cập, trong khi ô bên trái gợi ý các câu chuyện khác để người dùng có thể chọn nghe tiếp.

Đặc biệt, khi thu nhỏ trình phát, tính năng tóm tắt âm thanh sẽ chuyển thành trình phát mini nằm phía trên thanh điều hướng dưới cùng. Điều này cho phép người dùng vừa nghe tin tức, vừa tiếp tục duyệt Google News hoặc lướt web trên điện thoại mà không bị gián đoạn.

Thời điểm triển khai

Tính năng Tóm tắt Tin tức bằng Âm thanh hiện đã được triển khai cho người dùng Android trên phiên bản Google News 5.146.x và dự kiến sẽ sớm có mặt trên iOS trong thời gian tới.

Với tab “Nghe” mới, Google News đang từng bước biến ứng dụng đọc tin truyền thống thành một nền tảng tin tức đa phương thức, nơi người dùng có thể linh hoạt lựa chọn cách tiếp nhận thông tin phù hợp với nhịp sống hiện đại.

Theo Phone Arena

HÙNG NGUYỄN


Nguồn: https://baomoi.com/google-news-bo-sung-tinh-nang-nghe-tin-tuc-bang-ai-c54069855.epi