NGÀNH CNTT TUYỂN SINH NHIỀU CHỈ TIÊU NGÀNH CNTT, CNTT VIỆT NHẬT VÀ KHOA HỌC DỮ LIỆU

Tin tức

Lừa đảo tình cảm qua mạng tăng đột biến trong dịp Lễ Tình nhân

on .

Tập đoàn Tư vấn Competitive Intelligence Unit cho biết, trước thềm Lễ Tình nhân 14/2, các tổ chức an ninh mạng tại Mexico cảnh báo tình trạng lừa đảo tình cảm qua mạng tại nước này gia tăng đột biến, với quy mô và mức độ tinh vi ngày càng cao.

Thống kê cho thấy, khoảng 20% người dân Mexico từng rơi vào bẫy lừa đảo tình cảm trực tuyến, trong đó nhiều trường hợp bị chiếm đoạt tiền hoặc bị đánh cắp thông tin tài chính cá nhân. Trung bình mỗi vụ lừa đảo trực tuyến gây thiệt hại cho nạn nhân khoảng 8.750 peso (460 USD), tương đương thu nhập trung bình hàng tháng của người lao động tại Mexico.

Theo Tập đoàn Tư vấn Competitive Intelligence Unit, tội phạm mạng chủ động tiếp cận nạn nhân thông qua mạng xã hội và ứng dụng hẹn hò, xây dựng mối quan hệ trong thời gian dài để tạo dựng lòng tin trước khi đưa ra các yêu cầu chuyển tiền, hỗ trợ tài chính khẩn cấp hoặc cung cấp dữ liệu nhạy cảm.

 

Đáng chú ý, nhiều đường dây đã lợi dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo để tạo hồ sơ giả, hình ảnh và nội dung trao đổi có tính cá nhân hóa cao, khiến người dùng khó nhận diện dấu hiệu bất thường.

Giới chức an ninh mạng khuyến cáo người dân nâng cao cảnh giác, kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng để được hỗ trợ xử lý khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn.

R.G

Nguồn: https://baomoi.com/lua-dao-tinh-cam-qua-mang-tang-dot-bien-trong-dip-le-tinh-nhan-c54479367.epi

Thúc đẩy hợp tác giáo dục, khoa học - công nghệ Việt Nam - Israel

on .

Theo phóng viên TTXVN tại Tel Aviv, từ ngày 31/1 đến 4/2, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Minh Sơn, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, dẫn đầu đoàn công tác của nhà trường đã có chuyến thăm và làm việc tại Israel, nhằm cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.

 Đoàn công tác ĐHQGHN tham dự Hội nghị EducAItion 2026.

Đoàn công tác ĐHQGHN tham dự Hội nghị EducAItion 2026.

Trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn đã tham dự Hội nghị quốc tế về hoạch định chính sách giáo dục cá nhân hóa trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (EducAItion 2026) – một sự kiện lớn, quy tụ các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia giáo dục, công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) đến từ gần 30 quốc gia và tổ chức quốc tế. Sự kiện do Bộ Giáo dục Israel phối hợp tổ chức và được thiết kế như một không gian đối thoại chính sách đa tầng, kết nối cấp bộ trưởng, nhà quản lý giáo dục, lãnh đạo đại học và giới chuyên gia, tập trung vào 3 chủ đề lớn: Bức tranh tương lai của giáo dục và tầm nhìn cá nhân hóa học tập; Israel như một hình mẫu thử nghiệm đổi mới sáng tạo trong giáo dục; và cùng dẫn dắt các chuyển đổi giáo dục trên quy mô toàn cầu.

Chương trình hội nghị bao gồm các phiên đối thoại chính sách cấp cao, các cuộc họp bộ trưởng, các phiên thảo luận chuyên sâu dành cho giới học thuật, cùng chuỗi hoạt động trải nghiệm trực tiếp các công cụ AI ứng dụng trong giáo dục. Đặc biệt, EducAItion 2026 tạo lập nền tảng thúc đẩy hợp tác quốc tế về AI trong giáo dục, khuyến khích sự kết nối giữa khu vực công - tư, giữa giáo dục - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo.

 Giám đốc ĐHQGHN Hoàng Minh Sơn và Hiệu trưởng Đại học Hebrew Jerusalem Oron Shagrir ký kết Bản ghi nhớ hợp tác (MoU) giữa hai trường đại học.

Giám đốc ĐHQGHN Hoàng Minh Sơn và Hiệu trưởng Đại học Hebrew Jerusalem Oron Shagrir ký kết Bản ghi nhớ hợp tác (MoU) giữa hai trường đại học.

Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Hoàng Minh Sơn đã tham gia các phiên đối thoại chính sách cấp cao, cùng các Bộ trưởng Giáo dục, lãnh đạo đại học và nhà hoạch định chính sách đến từ nhiều quốc gia, tập trung thảo luận những vấn đề cốt lõi của giáo dục đại học trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Các nội dung trao đổi xoay quanh xây dựng chính sách giáo dục cá nhân hóa, quản trị AI có trách nhiệm, bảo đảm liêm chính học thuật, thu hẹp khoảng cách số và phát huy vai trò dẫn dắt của các đại học quốc gia trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Tại các phiên thảo luận, Giám đốc Hoàng Minh Sơn chia sẻ quan điểm về cách tiếp cận cân bằng giữa đổi mới và quản trị, nhấn mạnh rằng AI cần được tích hợp vào giáo dục đại học như một hạ tầng chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và khả năng thích ứng của người học, đồng thời phải được đặt trong khuôn khổ chính sách rõ ràng, lấy con người làm trung tâm. Giám đốc Hoàng Minh Sơn cho rằng các đại học quốc gia không chỉ là chủ thể thụ hưởng chính sách, mà cần đóng vai trò kiến tạo chính sách, thông qua nghiên cứu thực chứng, thí điểm mô hình và tư vấn chiến lược cho Nhà nước.

Giám đốc ĐHQGHN Hoàng Minh Sơn và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Israel Yoav Kisch. 

Giám đốc ĐHQGHN Hoàng Minh Sơn và Bộ trưởng Bộ Giáo dục Israel Yoav Kisch.

Bên cạnh vai trò đối thoại chính sách, đoàn Đại học Quốc gia Hà Nội đã để lại dấu ấn học thuật rõ nét tại EducAItion 2026 thông qua 2 tham luận chuyên sâu của các nhà khoa học hàng đầu. Phó Giáo sư – Tiến sĩ Huy Nghiêm, Giám đốc Viện Giáo dục số và Khảo thí, Đại học Quốc gia Việt Nam đã trình bày tham luận "Nghịch lý lo âu – nhiệt huyết: Xây dựng kiến trúc niềm tin AI lấy con người làm trung tâm trong giáo dục đại học" và Giáo sư – Tiến sĩ Chu Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (UET), Đại học Quốc gia Việt Nam, trình bày tham luận: "Tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam cho các chương trình STEM định hướng tài năng như một kiến trúc giáo dục lấy con người làm trung tâm".

Hội nghị ra Tuyên bố Jerusalem về thúc đẩy giáo dục thông qua việc ứng dụng AI.

Trước đó, Giám đốc Hoàng Minh Sơn và đoàn công tác cũng đã có các cuộc làm việc quan trọng với Bộ trưởng Giáo dục Israel Yoav Kisch, trao đổi về định hướng phát triển giáo dục trong bối cảnh AI, kinh nghiệm xây dựng chính sách giáo dục cá nhân hóa và khả năng mở rộng hợp tác song phương trong đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Trong khuôn khổ chuyến công tác tại Israel, Giám đốc Hoàng Minh Sơn và đoàn công tác Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã thăm và làm việc với Viện Công nghệ Israel (Technion) và Đại học Hebrew Jerusalem, nhằm thúc đẩy hợp tác trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Giám đốc ĐHQGHN Hoàng Minh Sơn gặp gỡ các sinh viên Việt Nam đang theo học tại Viện Công nghệ Israel (Technion). 

Giám đốc ĐHQGHN Hoàng Minh Sơn gặp gỡ các sinh viên Việt Nam đang theo học tại Viện Công nghệ Israel (Technion).

Tại Technion – cơ sở giáo dục công nghệ hàng đầu và là “cái nôi” của hệ sinh thái công nghệ cao Israel – hai bên trao đổi tiềm năng hợp tác theo lộ trình, trước mắt tập trung vào trao đổi giảng viên, sinh viên, chương trình thạc sĩ, tiến sĩ giảng dạy bằng tiếng Anh, các khóa học Hè và thực tập nghiên cứu; lâu dài hướng tới triển khai đề tài chung, phòng thí nghiệm hoặc trung tâm nghiên cứu chung trong các lĩnh vực như vật liệu tiên tiến, AI, bán dẫn, công nghệ sinh học y sinh và năng lượng. Giám đốc Hoàng Minh Sơn cũng đã gặp gỡ, trao đổi thân mật với các sinh viên Việt Nam đang học tập tại Technion, bày tỏ sự trân trọng trước nỗ lực học tập, thích nghi và vượt qua khó khăn của các du học sinh Việt Nam tại Israel. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất mô hình kết nối 3 bên giữa sinh viên Việt Nam đang học tập ở nước ngoài, các phòng thí nghiệm – nhóm nghiên cứu tại Việt Nam và doanh nghiệp, qua đó hình thành mạng lưới hợp tác học thuật và công nghệ mang tính quốc tế.

Tại Đại học Hebrew Jerusalem - một trong những cơ sở giáo dục và nghiên cứu hàng đầu của Israel và thế giới, nổi tiếng với thế mạnh trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, y sinh, nông nghiệp và đổi mới sáng tạo, hai bên đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác (MoU), tạo khuôn khổ thúc đẩy đào tạo, nghiên cứu và trao đổi học giả.

Chia sẻ tại các buổi làm việc, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh bức tranh phát triển năng động của giáo dục đại học Việt Nam và các chính sách đột phá của Đại học Quốc gia Hà Nội trong thu hút nhân lực khoa học – công nghệ, đồng thời bày tỏ mong muốn sớm cụ thể hóa hợp tác với Technion và Đại học Hebrew Jerusalem gắn với doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo.

 Đoàn ĐHQGHN chụp ảnh lưu niệm với các lãnh đạo Bộ Giáo dục Israel.

Đoàn ĐHQGHN chụp ảnh lưu niệm với các lãnh đạo Bộ Giáo dục Israel.

Trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn cũng tới thăm và làm việc với Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế (MASHAV) , Bộ Ngoại giao Israel; thăm một số trung tâm đổi mới sáng tạo tại Israel... Trong các cuộc làm việc, đại diện Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ tầm nhìn chiến lược, mong muốn thúc đẩy hợp tác học thuật và nghiên cứu với các đối tác hàng đầu thế giới.

Chuyến thăm và làm việc của đoàn Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội tại Israel có ý nghĩa thiết thực trong việc triển khai các nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng về phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thông qua việc mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục, nghiên cứu hàng đầu của Israel và kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm đào tạo, nghiên cứu xuất sắc, nòng cốt của giáo dục đại học Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy nghiên cứu gắn với ứng dụng và chuyển giao tri thức, phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tin, ảnh: Thanh Bình (PV TTXVN tại Israel)

Nguồn: https://baomoi.com/thuc-day-hop-tac-giao-duc-khoa-hoc-cong-nghe-viet-nam-israel-c54411469.epi?utm_source=dapp&utm_campaign=share

Indonesia chính thức cấm mạng xã hội đối với trẻ dưới 16 tuổi

on .

Theo Channel NewsAsia, từ ngày 28-3, Indonesia bắt đầu triển khai quy định cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng các nền tảng mạng xã hội và dịch vụ trực tuyến tiềm ẩn rủi ro, đánh dấu bước đi mạnh tay đầu tiên tại Đông Nam Á trong kiểm soát môi trường số.

Theo quy định mới, người dưới 16 tuổi sẽ không được phép tạo tài khoản trên các nền tảng như YouTube, TikTok, Facebook, Instagram, Threads, X hay Roblox. Chính phủ cho biết việc thực thi sẽ được triển khai theo lộ trình, yêu cầu các nền tảng tuân thủ đầy đủ.Bộ trưởng Truyền thông và Kỹ thuật số Meutya Hafid cho biết một số doanh nghiệp công nghệ đã bắt đầu hành động, trong đó X cam kết vô hiệu hóa tài khoản chưa đủ tuổi, còn Roblox xây dựng chế độ hạn chế truy cập cho người dùng nhỏ tuổi.

Quy định có thể ảnh hưởng tới khoảng 70 triệu trẻ em tại Indonesia. Tuy nhiên, giới chức thừa nhận việc thực thi sẽ gặp nhiều thách thức, đặc biệt trong khâu xác minh độ tuổi và phối hợp kỹ thuật với các nền tảng.Chính sách này nhận được phản ứng trái chiều. Nhiều phụ huynh ủng hộ nhằm giảm sự phụ thuộc của trẻ vào thiết bị số, trong khi một số ý kiến cho rằng cần kết hợp giáo dục kỹ năng sử dụng internet an toàn.

B.N


Nguồn: BÁO MỚI

Bất ngờ: Càng xài AI, con người càng kiệt sức

on .

Dù được kỳ vọng giúp con người làm việc nhanh và hiệu quả hơn, trí tuệ nhân tạo (AI) lại đang tạo ra một nghịch lý mới: người dùng càng phụ thuộc vào AI càng dễ rơi vào trạng thái kiệt sức. 

Nghịch lý xài AI càng nhiều, con người càng dễ kiệt sức - Ảnh 1.
 AI càng giỏi, người dùng càng mệt mỏi - Ảnh: FREEPIK

Các chuyên gia của công ty tư vấn chiến lược Boston Consulting Group (BCG) gọi hiện tượng này là "AI brain fry" - trạng thái quá tải nhận thức khi con người phải liên tục giám sát, điều phối và tối ưu hóa các hệ thống AI vượt quá giới hạn xử lý của não bộ.

Thay vì trực tiếp giải quyết công việc, người dùng giờ đây chuyển sang một vai trò mới: "quản lý" cả một hệ sinh thái gồm trợ lý AI, các tác nhân tự động và những dòng lệnh phức tạp. Sự thay đổi này đang tạo ra một dạng áp lực tinh thần hoàn toàn khác, âm thầm nhưng dai dẳng.

Theo ông Ben Wigler - nhà đồng sáng lập công ty khởi nghiệp LoveMind AI, việc sử dụng AI ngày nay không đơn thuần là ra câu lệnh và nhận kết quả. Ông nhấn mạnh: "Bạn phải liên tục theo dõi, kiểm soát các mô hình, giống như đang giám sát những nhân viên số".

Cùng quan điểm này, ông Tim Norton - nhà sáng lập công ty tư vấn tích hợp AI nouvreLabs - cho rằng tình trạng kiệt sức xuất hiện khi người dùng tạo ra quá nhiều "tác nhân AI" (AI agents) và phải quản lý chúng liên tục.

Tuy vậy, BCG nhấn mạnh đây không phải là dấu hiệu AI khiến con người chán công việc. Ngược lại, kết quả khảo sát thực hiện đối với 1.488 lao động tại Mỹ cho thấy mức độ kiệt sức tổng thể có xu hướng giảm khi AI đảm nhận các nhiệm vụ lặp lại, cho thấy vấn đề không nằm ở bản thân công nghệ, mà ở cách con người sử dụng AI.

Hiện tượng "brain fry" bộc lộ rõ nhất trong giới lập trình, lĩnh vực AI đang phát triển nhanh chóng trong việc viết mã. Kỹ sư phần mềm Siddhant Khare chỉ ra nghịch lý: các mã do AI tạo ra thường cần được kiểm tra kỹ hơn so với mã do con người viết. Trong khi đó, lập trình viên Adam Mackintosh thừa nhận áp lực khi phải rà soát hàng chục nghìn dòng code mà bản thân không hoàn toàn hiểu rõ.

Không chỉ vậy, nếu thiếu sự giám sát, các tác nhân AI có thể hiểu sai yêu cầu, dẫn đến xử lý sai hướng và gây lãng phí tài nguyên tính toán, một rủi ro không nhỏ đối với doanh nghiệp.

Một hệ quả khác ít được chú ý là "bẫy năng suất". Khi AI giúp rút ngắn thời gian hoàn thành công việc, người dùng lại có xu hướng làm việc nhiều hơn và lâu hơn.

Ông Wigler cho rằng khả năng đạt mục tiêu nhanh chóng khiến các nhóm khởi nghiệp - vốn đã quen với áp lực cao - càng dễ sa vào vòng xoáy làm việc liên tục, thậm chí kéo dài đến đêm khuya. 

Bản thân lập trình viên Mackintosh từng dành 15 giờ liên tục để tinh chỉnh khoảng 25.000 dòng mã do AI hỗ trợ. Anh chia sẻ: "Đến cuối cùng, tôi cảm thấy mình không thể lập trình thêm được nữa… dễ cáu gắt và không muốn trả lời những câu hỏi dù đơn giản".

Không chỉ trong lĩnh vực công nghệ, một giáo viên kiêm nhạc sĩ cũng thừa nhận khó "tắt não" sau giờ làm khi liên tục bị cuốn vào việc thử nghiệm AI, dấu hiệu cho thấy ranh giới giữa công việc và đời sống cá nhân đang bị xóa nhòa.

Dù tồn tại những mặt trái, nhưng phần lớn người dùng vẫn nhìn nhận AI theo hướng tích cực, coi đây là công cụ mạnh mẽ nếu được sử dụng đúng cách. BCG khuyến nghị các doanh nghiệp cần thiết lập giới hạn rõ ràng trong việc triển khai và giám sát AI, đồng thời chú trọng yếu tố cân bằng và "tự chăm sóc" cho người lao động. 

Tuy nhiên, theo ông Wigler, điều này không dễ thực hiện trong môi trường làm việc hiện đại, nơi hiệu suất vẫn thường được đặt lên hàng đầu.

Nguồn: TUỔI TRẺ 

Vì sao Google Maps lại biết người dùng đang di chuyển bằng phương tiện nào?

on .

Nhiều người dùng không khỏi thắc mắc vì sao chỉ cần mở ứng dụng dẫn đường, Google Maps có thể nhanh chóng nhận biết họ đang đi bộ, đi xe máy, ô tô hay thậm chí là tàu điện. Trên thực tế, ứng dụng này không 'nhìn thấy' phương tiện di chuyển, mà sử dụng một hệ thống phân tích dữ liệu phức tạp để đưa ra suy đoán với độ chính xác cao.

Trước hết, Google Maps dựa rất nhiều vào dữ liệu GPS. Tốc độ di chuyển và quãng đường là yếu tố quan trọng nhất. Người đi bộ thường có vận tốc thấp và khá đều, trong khi xe máy và ô tô di chuyển nhanh hơn, có những pha tăng giảm tốc rõ rệt và dừng chờ đèn đỏ. Với tàu hỏa hoặc tàu điện, tốc độ thường ổn định trong thời gian dài và lộ trình gần như cố định. Chỉ từ những thông số này, hệ thống đã có thể khoanh vùng được loại phương tiện mà người dùng đang sử dụng.

Bên cạnh GPS, các cảm biến tích hợp trên điện thoại thông minh cũng đóng vai trò quan trọng. Gia tốc kế, con quay hồi chuyển và la bàn giúp thiết bị nhận biết người dùng đang di chuyển hay đứng yên, mức độ rung lắc trong quá trình di chuyển, cũng như sự thay đổi hướng. Những rung động đặc trưng của xe máy, sự êm ái hơn khi ngồi trong ô tô hay nhịp bước đều khi đi bộ đều tạo ra các “dấu vân tay” chuyển động khác nhau, giúp hệ thống phân biệt phương tiện.

 

Một yếu tố khác là khả năng so khớp với bản đồ giao thông. Google Maps đối chiếu lộ trình di chuyển của người dùng với hệ thống hạ tầng trên bản đồ như đường dành cho ô tô, làn xe máy, vỉa hè, lối đi bộ hoặc đường ray tàu. Nếu một thiết bị di chuyển đúng theo tuyến tàu điện với tốc độ ổn định và ít thay đổi, khả năng rất cao là người dùng đang sử dụng phương tiện công cộng.

Tất cả những dữ liệu này sau đó được xử lý bằng trí tuệ nhân tạo. Google huấn luyện các mô hình AI dựa trên hàng tỷ chuyến đi đã được ghi nhận trước đó, từ đó học cách nhận diện hành vi di chuyển đặc trưng cho từng loại phương tiện. Càng nhiều người sử dụng Google Maps, hệ thống càng có thêm dữ liệu để cải thiện độ chính xác của các dự đoán.

 

Ngoài ra, chính người dùng cũng góp phần “gợi ý” cho Google Maps. Việc lựa chọn chế độ chỉ đường như đi bộ, xe máy, ô tô hay phương tiện công cộng, cũng như cho phép lưu Lịch sử vị trí, giúp ứng dụng hiểu rõ hơn thói quen di chuyển và đưa ra nhận định phù hợp hơn trong những lần sử dụng sau.

Tổng hợp từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, Google Maps có thể xác định phương tiện di chuyển với độ chính xác cao, dù không phải lúc nào cũng tuyệt đối. Tuy nhiên, chính khả năng suy đoán này là nền tảng để ứng dụng đưa ra dự báo tắc đường, thời gian đến nơi và gợi ý tuyến đường tối ưu, trở thành công cụ không thể thiếu với hàng triệu người dùng mỗi ngày.

Nguồn: BÁO MỚI